|
'Bao giờ cho đến tháng 10' - phim châu Á xuất sắc
Kênh CNN (Mỹ) vừa giới thiệu danh sách những bộ phim châu Á hay nhất mọi thời đại. Đứa con tinh thần xuất bản năm 1984 của đạo diễn Đặng Nhật Minh là bộ phim Việt Nam duy nhất được nêu tên.
Bao giờ cho đến tháng 10 từng giành giải Bông sen vàng tại Liên hoan phim Việt Nam 1985, đoạt giải đặc biệt của LHP Quốc tế châu Á - Thái Bình Dương năm 1989. Bộ phim cũng giúp các diễn viên Lê Vân, Nguyễn Hữu Mười, Như Quỳnh trở thành gương mặt nổi bật của điện ảnh Việt Nam.
Phim kể về Duyên (Lê Vân đóng) phải giấu kín nỗi đau khi biết tin chồng đã hy sinh trên chiến trường, hết lòng chăm sóc cha chồng già yếu. Để làm cha vui lòng, cô nhờ thầy giáo Khang (Nguyễn Hữu Mười) ở làng mạo danh chồng viết thư hỏi thăm gia đình, như xưa kia chồng cô vẫn làm. Bao giờ cho đến tháng 10 ca ngợi vẻ đẹp hồn hồn và sự hy sinh cao cả của người phụ nữ Việt Nam, là niềm tự hào của điện ảnh Việt Nam sau ngày thống nhất.
Kênh CNN nhận xét, châu Á chiếm 1/3 diện tích thế giới, với bốn tỷ người và 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, châu lục này chiếm tới một nửa số phim phát hành hàng năm. Riêng Bollywood - ngành công nghiệp điện ảnh Ấn Độ - đã cho ra lò khoảng 1.000 phim mỗi năm, gần gấp đôi so với Hollywood.

|
Lê Vân trong phim "Bao giờ cho đến tháng mười". Ảnh: Xí nghiệp Phim truyện Việt Nam. |
Danh sách các phim châu Á xuất sắc của mọi thời đại được các biên tập viên hãng tin CNN bầu chọn. Chiếm phần lớn là các tác phẩm Hoa ngữ. Được coi là kinh đô điện ảnh châu Á, nhưng Ấn Độ cũng chỉ được nêu tên một lần. Chiếm ngôi á quân là ngành công nghiệp điện ảnh của xứ sở hoa anh đào. Tác phẩm kinh dị "made in Korea" Quái vật sông Hàn (The Host) là một trong số hai bộ phim Hàn Quốc có tên trong danh sách này.
Những bộ phim châu Á hay nhất mọi thời đại:
Tâm trạng khi yêu (In the Mood for Love - Hong Kong/Trung Quốc, 2000) của đạo diễn Vương Gia Vệ (Wong Kar Wai).
Mother India (Ấn Độ, 1957) của đạo diễn Mehboob Khan.
Quái vật sông Hàn (The Host - Hàn Quốc, 2006) của đạo diễn Bong Joon Ho.
Syndromes and a Century (Thái Lan, 2006) của đạo diễn Apichatpong Weerasethakul.
Whale Rider (New Zealand, 2002) của đạo diễn Niki Caro.
Still Life (Trung Quốc, 2006), của đạo diễn Giả Chương Kha (Jie Zhang Ke).
Shower (Trung Quốc, 1999) của đạo diễn Yang Zhang
Shall we dansu? (Nhật Bản, 1998) của đạo diễn Masayuki Suo.
The Ballad of Narayama (Nhật Bản, 1958) của đạo diễn Keisuke Kinoshita.
Vô gian đạo (Infernal Affairs - Hong Kong/Trung Quốc, 2002) của đạo diễn Lưu Vệ Khang (Andrew Lau Wai Keung) và (Mạch Thiệu Huy (Alan Mak Siu Fai)
Mandala (Hàn Quốc, 1981) của đạo diễn Kwon Taek Im.
To Live (Trung Quốc, 1994) của đạo diễn Trương Nghệ Mưu (Zhang Yimou).
Bao giờ cho đến tháng mười (When the Tenth Month Comes - Việt Nam) của đạo diễn Đặng Nhật Minh.
Himala (Philippines, 1982) của đạo diễn Ishmael Bernal.
A Touch of Zen (Hong Kong/Taiwan, 1969) của đạo diễn King Hu.
Ikiru (Nhật Bản, 1952) của đạo diễn Akira Kurosawa.
Utu (New Zealand, 1983) của đạo diễn Geoff Murphy.
Gabbeh (Iran, 1996) của đạo diễn Mohsen Makhmalbaf.
Ngọc Minh
|