|
Julia Roberts và các cột mốc trong nghiệp diễn
Gương mặt sáng ngời, nụ cười rộng ngoác đến mang tai, mái tóc xù rối tung, tất cả đã làm nên một Julia Roberts thật riêng biệt. Cô độc chiếm ngôi vị công chúa của màn bạc một thời gian dài và được sánh đôi với những tài tử đắt giá nhất của làng giải trí.
|

|
|
Mystic Pizza (1988) Daisy Arujo
Không phải là trung tâm của phim, kịch bản lại có phần nhạt nhẽo, nhưng với Hiệu bánh Pizza, người đẹp đã khiến các đạo diễn chú ý tới mình qua nụ cười thân thiện và ngoại hình quyến rũ. |
|

|
|
Steel Magnolias (1989) Shelby
Một vai diễn không mấy nổi bật nhưng với nhân vật Shelby, Roberts chứng minh cho các nhà sản xuất thấy cô không chỉ có một gương mặt đẹp. Tài diễn xuất bắt đầu bộ lộ rõ và nó là bàn đạp để cô tiến tới vai diễn ghi dấu ấn mạnh mẽ nhất trong sự nghiệp: Pretty Woman. |
|

|
|
Pretty Woman (1990) Vivian Ward
Từ một cô gái làng chơi vụt trở thành một quý bà sành điệu và lịch lãm, nhân vật này tạo nhiều đất diễn cho Julia Roberts. Cô có dịp thể hiện các khía cạnh trong con người mình: khi thì ăn mặc bụi bặm, lúc thì diêm dúa chải chuốt, lúc mang cá tính sỗ sàng, khi lại dịu dàng e thẹn. Với vai diễn này, Julia Roberts ghi tên mình vào danh sách diễn viên hạng A của Hollywood và từ đó, cô luôn nằm trong số những diễn viên có thù lao cao nhất kinh đô điện ảnh. |
|

|
|
Sleeping with the Enemy (1991) Laura Burney
Julia Roberts khiến mọi người thương cảm và hồi hộp theo dõi số phận của Laura Burney, người vợ chạy trốn khỏi người chồng bạo lực. Với vai diễn này, khán giả được chứng kiến tài diễn xuất nội tâm của cô: nhẫn nhịn chịu đựng ông chồng vũ phu, người mà chỉ cần nhìn thấy vợ mặc chiếc áo đẹp cũng có cớ đánh đập. Người xem thấy cô uất hận, nghẹn ngào khi ở bên ông chồng khát máu và thấy cô phơi phới yêu đời nhưng vẫn dằn vặt lo sợ khi tìm thấy tình yêu đích thực với cuộc sống mới. |
|

|
|
Hook (1991) Tinkerbell
Đây là vai diễn ngắn gọn nhất trong đời làm diễn viên của Roberts. Cô vào vai bà tiên trong tác phẩm thuộc thể loại tưởng tượng của đạo diễn Steven Spielberg. |
|

|
|
I Love Trouble (1994) Sabrina Peterson
Một chuyện tình mang tính ước lệ: cô phóng viên mới bước chân vào làng báo và một cây bút thuộc hàng cây đa cây đề cùng cạnh tranh trong nghề nghiệp. Từ vị trí đối thủ, họ hợp tác rồi yêu nhau lúc nào không hay. Chuyện phim nhẹ nhàng, tình yêu nhẹ nhàng, nó cũng giống như nhiều tác phẩm mà Julia Roberts tham gia: một bài tình ca lãng mạn. |
|

|
|
Mary Reilly (1996) Mary Reilly
Julia Roberts gần như lột xác hoàn toàn với vai diễn Mary Reilly. Một kiểu thân phận khác biệt, một con người hoàn toàn khác biệt, thế nhưng, bộ phim không thực sự thành công như ê kíp thực hiện mong đợi. |
|

|
|
My Best Friend's Wedding (1997) Julianne Potter
Rõ ràng là trở lại với một bộ phim hài nhẹ nhàng có phần nào thích hợp hơn cho Julia. Cùng với Cameron Diaz, cô mang lại cho người xem những cung bậc cảm xúc, những chiêm nghiệm về tình yêu mới. |
|

|
|
Runaway Bride (1999) Maggie Carpenter
Trở lại với Richard Gere, người đã sánh đôi tuyệt vời với cô trong Người đàn bà đẹp, Julia Roberts tạo nên một hiệu ứng mới. Cô khiến người xem gợi nhớ đến chính bản thân mình vì thời điểm ấy, Julia yêu thì nhiều nhưng mỗi khi khán giả nghĩ cô sắp lên xe hoa thì cũng là lúc tình yêu của cô vỗ cánh bay đi. |
|

|
|
Erin Brockovich (2000) Erin Brockovich
Một nhân vật đầy cá tính, một người mẹ độc thân nỗ lực trở thành luật sư, Julia Roberts lần này không chỉ khiến khán giả ngưỡng mộ mà còn thuyết phục được những người trong giới nghệ sĩ. Với vai diễn này, cô tiếp cận được với giải Oscar mà trước đó, dù các bộ phim khác cô tham gia có thành công đến mấy về mặt doanh thu, chúng chưa hề ghi điểm và có duyên với các giải thưởng. |
| 
|
|
Charlotte's Web (2006) Charlotte
Đây là lần thứ hai Roberts lồng tiếng cho phim hoạt hình, sau The Ant Bully. Nhân vật của cô là chú nhện nhanh trí và thông minh, người cứu nguy cho nhân vật chính Wilbur khỏi cái chết. |
Kỳ Anh
|